Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tuần 24. Thực hành về hàm ý
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: http://soanbai.violet.vn
Người gửi: Thư viện tham khảo (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:51' 23-07-2015
Dung lượng: 146.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: http://soanbai.violet.vn
Người gửi: Thư viện tham khảo (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:51' 23-07-2015
Dung lượng: 146.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Công ty Cổ phần Mạng giáo dục Bạch Kim - 27 Huỳnh Thúc Kháng, Đống Đa, Hà Nội
Trang bìa
Trang bìa:
Tiết 72 Thực hành về hàm ý I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý
1. Tìm hiểu ngữ liệu:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 1.1. Đọc đoạn trích sau và tìm hiểu các câu hỏi: Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con bò xuống gốc đào trước cửa. Pá Tra bước ra hỏi: - Mất mấy con bò ? A Phủ trả lời tự nhiên: - Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm. Pá Tra hất tay, nói: - Quân ăn cướp làm mất bò tao. A Sử ! Đem súng đi lấy con hổ về. (Tô Hoài, Vợ chồng A Phủ) 1.2.Phân tích ngữ liệu:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 1.2.Phân tích ngữ liệu: Căn cứ vào lời đáp của A Phủ với câu hỏi của Pá Tra thì: - Lời đáp của A Phủ thiếu thông tin cần thiết nhất với yêu cầu của câu hỏi: Số lượng bò bị mất (mất mấy con bò?). A Phủ đã lờ đi yêu cầu này của Pá Tra. - Lời đáp thừa thông tin so với yêu cầu của câu hỏi: A Phủ nói đến công việc dự định và niềm tin của mình (Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm.) - Cách trả lời của A Phủ có độ khôn khéo: Không trả lời thẳng, gián tiếp công nhận việc để mất bò bằng cách nói ra dư định “lấy công chuộc tội” (bắn hổ chuộc tội mất bò, bò có giá trị hơn hổ); cách nói làm giảm cơn giận dữ của Pá Tra, A Phủ cũng giữ được thể diện cho mình. Khái niệm:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: Từ phân tích trên, dựa vào kiến thức đã học ở THCS, nhắc lại khái niệm về hàm ý? 2.1. Khái niệm: - Hàm ý là những nội dung, ý nghĩ mà người nói không nói ra trực tiếp bằng từ ngữ, tuy vẫn có ý định truyền báo đến người nghe (Khác với nghĩa tường minh: Nghĩa thể hiện ở câu chữ) - Người nghe phải dựa vào nghĩa tường minh, ngữ cảnh, phương châm hội thoại để hiểu được ý của người nói. Cách thức tạo câu có hàm ý:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: Để tạo câu có hàm ý, người ta thường dùng các cách thức nào? 2.2. Cách thức tạo câu có hàm ý - Cách nói chủ ý vi phạm một (hoặc một số) phương châm hội thoại nào đó: Chủ ý vi phạm phương châm về lượng: nói thừa hoặc thiếu thông tin mà đề tài yêu cầu. Chủ ý vi phạm phương châm quan hệ: đi chệch đề tài cuộc giao tiếp. Chủ ý vi phạm cách thức: nói mập mờ, vòng vo, không rõ ràng, rành mạch. - Sử dụng các hành động nói gián tiếp. Cách thức tạo hàm ý:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: A Phủ đã chủ ý vi phạm phương châm về lượng tin khi giao tiếp như thế nào? 2.2. Cách thức tạo câu có hàm ý A Phủ đã nói vừa thiếu lượng tin cần thiết vừa thừa lượng tin so với yêu cầu trong câu hỏi của Pá Tra, tức là chủ ý vi phạm phương châm về lượng để tạo ra hàm ý: công nhận việc để mất bò nhưng muốn lấy công chuộc tội. 3. Tác dụng của hàm ý: :
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: 3. Tác dụng của hàm ý: - Tạo ra hiệu quả mạnh mẽ, sâu sắc hơn cách nói thông thường (nói tường minh). - Giữ được tính lịch sự và thể diện cho người nói, người nghe. - Làm cho lời nói hàm súc. - Người nói có thể không phải chịu trách nhiệm về hàm ý. II. Thực hành về hàm ý
1. Bài tập 1:
1. Bài tập 1 Phân tích: câu trả lời của A Phủ : “Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ nầy to lắm”. a. Nếu căn cứ vào nghĩa tường minh trong lời đáp của A Phủ thì: Nghĩa tường minh - Thiếu thông tin về số lượng bò bị mất. - Thừa thông tin về việc lấy súng đi bắt con hổ. Hàm ẩn - Công nhận bò bị mất, bị hổ ăn thịt, công nhận mình có lỗi. - Khôn khéo lồng vào đó ý định lấy công chuộc tội, hơn nữa còn hé mở hi vọng con hổ có giá trị nhiều hơn so với con bò bị mất. Hàm ý trong cách trả lời của A Phủ:
b) Cách trả lời của A Phủ có hàm ý: công nhận bò mất do hổ ăn, mình có lỗi. => Cách trả lời này thể hiên sự khôn khéo của A Phủ, lồng vào đó ý định lấy công chuộc tội và hé mở hi vọng con hổ có giá trị nhiều so với con bò bị mất (con hổ này to lắm). c. Hàm ý : Những nội dung, ý nghĩ mà người nói muốn truyền báo đến người nghe, nhưng không nói ra trực tiếp, tường minh qua câu chữ, mà chỉ ngụ ý để người nghe suy ra. => A Phủ chủ ý vi phạm phương châm về lượng tin để tạo ra hàm ý: công nhận việc mất bò, muốn lấy công chuộc tội. 2. Bài tập 2:
2. Bài tập 2 a. Câu nói của Bá Kiến: “Tôi không phải cái kho.” - Hàm ý: Cái kho là biểu tượng của của cải, sự giàu có => Tôi không có nhiều tiền của để có thể lúc nào cũng có thể cho anh - Chí Phèo - Cách nói không đảm bảo phương châm cách thức: không nói rõ ràng, mạch lạc mà thông qua hình ảnh cái kho để nói bóng gió đến tiền của. Lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến:
b. Tại lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến có dùng những câu hỏi: - ``Chí Phèo đấy hở?`` => Không nhằm ý định hỏi, thực hiện hành động hỏi. mà mục đích hô gọi, hướng lời nói đến người nghe. - "Rồi làm mà ăn chứ, cứ báo người ta mãi à?" => Nhằm mục đích cảnh báo, sai khiến, thúc giục: Chí Phèo làm mà ăn chứ không thể luôn đến xin tiền. c. Lượt lời 1, 2 Chí Phèo không nói hết ý: đến để làm gì? - Hàm ý được tường minh ở lượt lời thứ 3 của hắn. =>Cách nói ở hai lượt đầu không đảm bảo phương châm về lượng (không đủ lượng thông tin cần thiết so với yêu cầu ở thời điểm nói) và cả phương châm về cách thức (nói không rõ ràng). Bài tập 3:
3. Bài tập 3: Đọc truyện cười sau và trả lời các câu hỏi. Văn hay Một ông đồ ngồi cặm cụi viết. Bà vợ đến bên cạnh bảo: - Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không ? Thầy đồ lấy làm đắc chí cho là vợ khen tài văn chương của mình, ý văn dồi dào giấy khổ nhỏ không đủ chép. Nhưng thầy cũng hỏi lại: - Bà nói vậy là thế nào ? Bà vợ thong thả nói: - Ông chả biết tính toán gì cả, giấy khổ to bỏ đi còn gói hàng, chứ giấy khổ nhỏ thì làm gì được. (Theo Truyện cười những chàng ngốc, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1993) Lượt lời thứ nhất và thứ 2:
a. Lượt lời thứ nhất: - “Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không?” => Câu hỏi nhưng không phải để hỏi, mà để thực hiện việc làm thực dụng: khuyên ông đồ viết bằng khổ giấy to - Qua lượt lời thứ hai, lượt lời đầu còn có thêm hàm ý khác (không nói ra): không tin vào tài năng của ông. b. Bà đồ không nói thẳng ý mình vì : - Muốn giữ thể diện cho ông đồ - Không muốn phải chịu trách nhiệm về cái hàm ý của câu nói. III. Củng cố, dặn dò
Câu 1:
Câu 1: Đê nói một câu có hàm ý, người ta dùng những cách thức nào? Chon câu trả lời đúng và đầy đủ nhất.
A. Chủ yếu vi phạm phương châm về lượng trong giao tiếp (nói thừa lượng thông tin cần thiết hoặc nói thiếu lượng thông tin so với yêu cầu của cuộc giao tiếp)
B. Chủ ý vi phạm phương châm cách thức (nói mập mờ, vòng vo, không rõ ràng, rành mạch)
C. Sử dụng các hành động nói gián tiếp
D. Tuỳ ngữ cảnh mà sử dụng một hay phối hơp các cách thức trên
Câu 2:
Câu 2 Thực hành về hàm ý: “ Chuột chù chê khỉ rằng hôi Khỉ mới trả lời: Cả họ mày thơm” Chỉ ra chỗ tạo hàm ý trong câu trên? Phân tích hiệu quả nghệ thuật của cách tạo hàm ý đó? Trả lời: - Chỗ tạo hàm ý: “Cả họ mày thơm” - Hiệu quả nghệ thuật: Tạo ra tình huống nực cười : chuột chù lại “chê khỉ rằng hôi”. Đáp lại lời chê của chuột chù, khỉ trả lời: “Cả họ mày thơm”. Khỉ đã vi phạm phương châm về lượng và cách thức khi nói, “nói không đúng sự thật” (ai cũng biết khỉ và chuột chù cả hai đều hôi, thậm chí chuột chù còn hôi hơn khỉ) để thực hiện hàm ý là mỉa mai, châm biếm chuột chù. Hàm ý sâu xa hơn, đó là châm biếm những người không thấy cái xấu của mình mà lại hay bới móc khuyết điểm của kẻ khác. => Bài học về cách sống: hãy nhìn lại bản thân mình trước khi đánh giá người khác. Dặn dò:
Dặn dò: 1. Tìm thêm những ví dụ về hàm ý trong cuộc sống và trong văn học. 2. Chuẩn bị bài tiếp theo: Đọc thêm: Mùa lá rụng trong vườn (trích) của Ma Văn Kháng.
Trang bìa
Trang bìa:
Tiết 72 Thực hành về hàm ý I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý
1. Tìm hiểu ngữ liệu:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 1.1. Đọc đoạn trích sau và tìm hiểu các câu hỏi: Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con bò xuống gốc đào trước cửa. Pá Tra bước ra hỏi: - Mất mấy con bò ? A Phủ trả lời tự nhiên: - Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm. Pá Tra hất tay, nói: - Quân ăn cướp làm mất bò tao. A Sử ! Đem súng đi lấy con hổ về. (Tô Hoài, Vợ chồng A Phủ) 1.2.Phân tích ngữ liệu:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 1.2.Phân tích ngữ liệu: Căn cứ vào lời đáp của A Phủ với câu hỏi của Pá Tra thì: - Lời đáp của A Phủ thiếu thông tin cần thiết nhất với yêu cầu của câu hỏi: Số lượng bò bị mất (mất mấy con bò?). A Phủ đã lờ đi yêu cầu này của Pá Tra. - Lời đáp thừa thông tin so với yêu cầu của câu hỏi: A Phủ nói đến công việc dự định và niềm tin của mình (Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm.) - Cách trả lời của A Phủ có độ khôn khéo: Không trả lời thẳng, gián tiếp công nhận việc để mất bò bằng cách nói ra dư định “lấy công chuộc tội” (bắn hổ chuộc tội mất bò, bò có giá trị hơn hổ); cách nói làm giảm cơn giận dữ của Pá Tra, A Phủ cũng giữ được thể diện cho mình. Khái niệm:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: Từ phân tích trên, dựa vào kiến thức đã học ở THCS, nhắc lại khái niệm về hàm ý? 2.1. Khái niệm: - Hàm ý là những nội dung, ý nghĩ mà người nói không nói ra trực tiếp bằng từ ngữ, tuy vẫn có ý định truyền báo đến người nghe (Khác với nghĩa tường minh: Nghĩa thể hiện ở câu chữ) - Người nghe phải dựa vào nghĩa tường minh, ngữ cảnh, phương châm hội thoại để hiểu được ý của người nói. Cách thức tạo câu có hàm ý:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: Để tạo câu có hàm ý, người ta thường dùng các cách thức nào? 2.2. Cách thức tạo câu có hàm ý - Cách nói chủ ý vi phạm một (hoặc một số) phương châm hội thoại nào đó: Chủ ý vi phạm phương châm về lượng: nói thừa hoặc thiếu thông tin mà đề tài yêu cầu. Chủ ý vi phạm phương châm quan hệ: đi chệch đề tài cuộc giao tiếp. Chủ ý vi phạm cách thức: nói mập mờ, vòng vo, không rõ ràng, rành mạch. - Sử dụng các hành động nói gián tiếp. Cách thức tạo hàm ý:
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: A Phủ đã chủ ý vi phạm phương châm về lượng tin khi giao tiếp như thế nào? 2.2. Cách thức tạo câu có hàm ý A Phủ đã nói vừa thiếu lượng tin cần thiết vừa thừa lượng tin so với yêu cầu trong câu hỏi của Pá Tra, tức là chủ ý vi phạm phương châm về lượng để tạo ra hàm ý: công nhận việc để mất bò nhưng muốn lấy công chuộc tội. 3. Tác dụng của hàm ý: :
I. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý 1. Tìm hiểu ngữ liệu: 2. Hệ thống hoá kiến thức về hàm ý: 3. Tác dụng của hàm ý: - Tạo ra hiệu quả mạnh mẽ, sâu sắc hơn cách nói thông thường (nói tường minh). - Giữ được tính lịch sự và thể diện cho người nói, người nghe. - Làm cho lời nói hàm súc. - Người nói có thể không phải chịu trách nhiệm về hàm ý. II. Thực hành về hàm ý
1. Bài tập 1:
1. Bài tập 1 Phân tích: câu trả lời của A Phủ : “Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ nầy to lắm”. a. Nếu căn cứ vào nghĩa tường minh trong lời đáp của A Phủ thì: Nghĩa tường minh - Thiếu thông tin về số lượng bò bị mất. - Thừa thông tin về việc lấy súng đi bắt con hổ. Hàm ẩn - Công nhận bò bị mất, bị hổ ăn thịt, công nhận mình có lỗi. - Khôn khéo lồng vào đó ý định lấy công chuộc tội, hơn nữa còn hé mở hi vọng con hổ có giá trị nhiều hơn so với con bò bị mất. Hàm ý trong cách trả lời của A Phủ:
b) Cách trả lời của A Phủ có hàm ý: công nhận bò mất do hổ ăn, mình có lỗi. => Cách trả lời này thể hiên sự khôn khéo của A Phủ, lồng vào đó ý định lấy công chuộc tội và hé mở hi vọng con hổ có giá trị nhiều so với con bò bị mất (con hổ này to lắm). c. Hàm ý : Những nội dung, ý nghĩ mà người nói muốn truyền báo đến người nghe, nhưng không nói ra trực tiếp, tường minh qua câu chữ, mà chỉ ngụ ý để người nghe suy ra. => A Phủ chủ ý vi phạm phương châm về lượng tin để tạo ra hàm ý: công nhận việc mất bò, muốn lấy công chuộc tội. 2. Bài tập 2:
2. Bài tập 2 a. Câu nói của Bá Kiến: “Tôi không phải cái kho.” - Hàm ý: Cái kho là biểu tượng của của cải, sự giàu có => Tôi không có nhiều tiền của để có thể lúc nào cũng có thể cho anh - Chí Phèo - Cách nói không đảm bảo phương châm cách thức: không nói rõ ràng, mạch lạc mà thông qua hình ảnh cái kho để nói bóng gió đến tiền của. Lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến:
b. Tại lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến có dùng những câu hỏi: - ``Chí Phèo đấy hở?`` => Không nhằm ý định hỏi, thực hiện hành động hỏi. mà mục đích hô gọi, hướng lời nói đến người nghe. - "Rồi làm mà ăn chứ, cứ báo người ta mãi à?" => Nhằm mục đích cảnh báo, sai khiến, thúc giục: Chí Phèo làm mà ăn chứ không thể luôn đến xin tiền. c. Lượt lời 1, 2 Chí Phèo không nói hết ý: đến để làm gì? - Hàm ý được tường minh ở lượt lời thứ 3 của hắn. =>Cách nói ở hai lượt đầu không đảm bảo phương châm về lượng (không đủ lượng thông tin cần thiết so với yêu cầu ở thời điểm nói) và cả phương châm về cách thức (nói không rõ ràng). Bài tập 3:
3. Bài tập 3: Đọc truyện cười sau và trả lời các câu hỏi. Văn hay Một ông đồ ngồi cặm cụi viết. Bà vợ đến bên cạnh bảo: - Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không ? Thầy đồ lấy làm đắc chí cho là vợ khen tài văn chương của mình, ý văn dồi dào giấy khổ nhỏ không đủ chép. Nhưng thầy cũng hỏi lại: - Bà nói vậy là thế nào ? Bà vợ thong thả nói: - Ông chả biết tính toán gì cả, giấy khổ to bỏ đi còn gói hàng, chứ giấy khổ nhỏ thì làm gì được. (Theo Truyện cười những chàng ngốc, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1993) Lượt lời thứ nhất và thứ 2:
a. Lượt lời thứ nhất: - “Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không?” => Câu hỏi nhưng không phải để hỏi, mà để thực hiện việc làm thực dụng: khuyên ông đồ viết bằng khổ giấy to - Qua lượt lời thứ hai, lượt lời đầu còn có thêm hàm ý khác (không nói ra): không tin vào tài năng của ông. b. Bà đồ không nói thẳng ý mình vì : - Muốn giữ thể diện cho ông đồ - Không muốn phải chịu trách nhiệm về cái hàm ý của câu nói. III. Củng cố, dặn dò
Câu 1:
Câu 1: Đê nói một câu có hàm ý, người ta dùng những cách thức nào? Chon câu trả lời đúng và đầy đủ nhất.
A. Chủ yếu vi phạm phương châm về lượng trong giao tiếp (nói thừa lượng thông tin cần thiết hoặc nói thiếu lượng thông tin so với yêu cầu của cuộc giao tiếp)
B. Chủ ý vi phạm phương châm cách thức (nói mập mờ, vòng vo, không rõ ràng, rành mạch)
C. Sử dụng các hành động nói gián tiếp
D. Tuỳ ngữ cảnh mà sử dụng một hay phối hơp các cách thức trên
Câu 2:
Câu 2 Thực hành về hàm ý: “ Chuột chù chê khỉ rằng hôi Khỉ mới trả lời: Cả họ mày thơm” Chỉ ra chỗ tạo hàm ý trong câu trên? Phân tích hiệu quả nghệ thuật của cách tạo hàm ý đó? Trả lời: - Chỗ tạo hàm ý: “Cả họ mày thơm” - Hiệu quả nghệ thuật: Tạo ra tình huống nực cười : chuột chù lại “chê khỉ rằng hôi”. Đáp lại lời chê của chuột chù, khỉ trả lời: “Cả họ mày thơm”. Khỉ đã vi phạm phương châm về lượng và cách thức khi nói, “nói không đúng sự thật” (ai cũng biết khỉ và chuột chù cả hai đều hôi, thậm chí chuột chù còn hôi hơn khỉ) để thực hiện hàm ý là mỉa mai, châm biếm chuột chù. Hàm ý sâu xa hơn, đó là châm biếm những người không thấy cái xấu của mình mà lại hay bới móc khuyết điểm của kẻ khác. => Bài học về cách sống: hãy nhìn lại bản thân mình trước khi đánh giá người khác. Dặn dò:
Dặn dò: 1. Tìm thêm những ví dụ về hàm ý trong cuộc sống và trong văn học. 2. Chuẩn bị bài tiếp theo: Đọc thêm: Mùa lá rụng trong vườn (trích) của Ma Văn Kháng.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓
Các ý kiến mới nhất